TV II-02
Bài 2
Quê hương
Quê hương là nơi sinh ra và lớn lên
của một con người, nơi gói ghém những kỷ niệm của thời thơ ấu. Sau này, dù đi
xa đến đâu, dù ở cương vị nào, người ta vẫn nhớ đến quê hương, cho dù nó còn
vất vả nghèo khó. Nói đến quê hương, người ta nhớ ngay đến sự ấm cúng gia đình,
đến những con đường đi qua hàng ngày, đến những bãi cỏ đá bóng hay đá cầu xưa
kia, đến những bài hát những câu chuyện rất riêng, rất đặc thù. Tình cảm cho
quê hương rất khó định nghĩa mà người ta chỉ cảm được thôi. Ðặc biệt là khi họ
xa nhà hay sau một chuyến đi xa trở về.
Càng xa quê, người ta càng hiểu và thông cảm với quê hương hơn. Người ta
theo dõi từng bước phát triển , từng thay đổi của quê hương để cùng mừng, cùng
lo với quê hương. Nhưng không phải ai cũng có một quê hương rõ ràng để thương
để nhớ. Ví dụ như trường hợp của Elisabeth dưới đây:
Khi đại chiến thế giới thứ 2 kết thúc, Elisabeth mới 11 tuổi. Mẹ em phải
một mình nuôi 5 đứa con, em là đứa lớn nhất. Bố em là tù binh Ðức bị Nga bắt ở
Xiberi. Vùng đất Oberschlesien bị hồng quân Liên xô chiếm quá nhanh nên gia
đình em không thể chạy trốn được. Một năm sau chiến tranh, bố em bệnh rất nặng
nên được thả về và ông đã mất vài năm sau đó. Mẹ em có cái tên nghe như tên
Slavơ nên, cũng như rất nhiều người Ðức khác ở vùng Oberschlesien, bị chính
quyền Balan ép phải ký vào bản cam kết trung thành với nhà nước Balan. Bà đã ký
vì mong muốn cho những đứa con bà được yên ổn. Sau này, Elisabeth học ở một trường
thương nghiệp. Cô đã lập gia đình năm 1954. Nhưng đối với những người hàng xóm
Balan, anh chị em cô là người Ðức. Người ta biết rất rõ, bố và ông cô đều đã
từng là lính Ðức. Bất cứ ở đâu, gia đình cô cũng bị họ coi là phát xít, cũng
bởi vì Balan là một trong những nước chịu quá nhiều đau khổ của cuộc chiến do
Hitler gây ra. Gia đình cô phải chịu đủ thứ thiệt thòi, ví dụ nhiều năm không
được mua đường. Cô chỉ được phép nói tiếng Ðức ở trong nhà, còn ở tất cả các
nơi khác cô phải nói tiếng Balan. Khi đứa con gái thứ 3 của cô ra đời, nhân
viên phòng hộ tịch hỏi tên đứa bé. Cháu tên là Ingrid – cô trả lời. Anh nhân
viên nói :” Thế thì không được, đấy không phải là tên Balan mà là tên Ðức”, và
cháu phải mang tên Eva.
Từ năm 1959, gia đình Elisabeth liên tục đặt
đơn xuất ngoại, nhưng đều bị khước từ. Sau khi thoả thuận với vợ, chồng cô đã ở
lại CHLB Ðức nhờ một chuyến du lịch năm 1977. Mãi đến năm 1981, Elisabeth cùng
2 con nhỏ mới được đoàn tụ với chồng. Cô được nhận vào làm việc ở một xưởng in
vùng hạ lưu sông Rhein. Các con cô đến trường, nhưng bị các học sinh khác miệt
thị là Polak. Claudia, đứa út của cô, không bao giờ được cô giáo quan tâm vì cô
giáo cho rằng”Ðằng nào nó cũng không biết tiếng Ðức mà”. Elisabeth chịu đựng
hết nổi. Cô trực tiếp đến trường như một con sư tử cái có bổn phận bảo vệ con
mình. Sau khi kể xong hoàn cảnh của mình, chị hỏi:”Các bạn nghĩ thế nào, nếu các bạn sống ở
một nước khác và bị đối xử như các bạn đã đối xử với Claudia như thế này?”- Bọn
trẻ hoàn toàn im lặng, và từ đấy tình hình có khá hơn.
Câu chuyện của Elisabeth kể chỉ là một trong
vô vàn số phận những người Ðức khác từ các nước Ðông Âu trở về. Họ đã đánh mất
quê hương. Họ là người Ðức, nhưng rất xa lạ trên chính đất Ðức!
Quê hương Việt nam của chúng ta xa tít, còn
nhiều gian truân cực nhọc, nhưng nó là nơi để ta nâng niu tưởng nhớ. Làm điều
gì đấy cho quê hương là trách nhiệm, bổn phận và cũng chính là vinh dự thiêng
liêng của mỗi công dân Việt nam, là một lẽ không cần bàn cãi.
Từ ngữ:
gói ghém: che đậy cho không lộ ra. Gói ghém kỷ niệm: chứa đựng
những kỷ niệm , nơi có những kỷ niệm
thời thơ ấu: thời niên thiếu, thời chưa trưởng thành, tuổi học sinh
phổ thông
cương vị: vị trí xã hội, vị trí trong một tập thể, một cộng đồng.
Cương vị giám đốc, cương vị thày giáo
...
ấm cúng: cảm thấy được che chở, cảm thấy hạnh phúc
đá cầu: một trò chơi của thiếu nhi Việt nam. Quả cầu được làm
bằng đồng xu có đuôi giấy. Các em đá truyền cho nhau sao cho cầu không rơi
xuống đất.
thông cảm: hiểu và đồng cảm với hoàn cảnh của ai đó
đại chiến thế giới: cuộc chiến tranh lôi kéo phần lớn các
nước trên thế giới tham gia. Ðã có 2 đại chiến thế giới xảy ra: Ðại chiến thế
giới lần thứ nhất từ 1914 – 1918. Ðại chiến thế giới lần thứ 2 từ 1939- 1945.
tù binh: lính của bên này bị phía bên kia bắt trong chiến trận.
Ví dụ :ï Bọn phát xít đưa tù binh Nga về
Buchenwald để thủ tiêu.
ép: cưỡng bức, bắt phải làm dù không muốn
cam kết: hứa sẽ thực hiện, đồng ý làm như thoả thuận
thương nghiệp: ngành kinh tế buôn bán. Nội thương:
buôn bán trong nước, ngoại thương: buôn bán với nước ngoài.
phòng hộ tịch: nơi đăng ký hộ khẩu của một thành phố,
thị trấn ...
đơn xuất ngoại: đơn xin định cư ở nước ngoài, sinh
sống ở nước ngoài.
khước từ: không đồng ý, không duyệt, không cho phép, không chấp
nhận
đoàn tụ: chung sống cùng, đoàn tụ gia đình: gia đình sống sum họp
miệt thị: nhìn bằng con mắt khinh thường, không tôn trọng
bổn phận: trách nhiệm phải làm, nghĩa vụ phải làm
vô vàn: rất nhiều, không thể kể được
gian truân: khó khăn vất vả
nâng niu: bảo vệ rất cẩn thận, sợ dễ vỡ, dễ hỏng
Em
hãy chọn một trong những từ thích hợp in nghiêng ở trên để điền vào các câu
dưới đây cho đúng!
Từ hai năm nay, anh
Thành làm việc ....................................... là phiên dịch.
.........................................
của tác giả là thời kỳ rất khó khăn.
Nam mời bạn gái nhảy,
nhưng cô ấy đã .........................................................
Mình bận quá, không
đến được chỗ bạn, mong bạn ............................... nhé!
Con đường xây dựng đất
nước tươi đẹp còn rất .............................................
Hãy đốt nến đi, cho có
không khí ................................................ của Nô-en.
Sau nhiều năm mỗi
người một ngả, gia đình Hồng lại được ..........................
Kỷ niệm của thời còn
trẻ cần được ................................................................
1.
Quê hương Việt nam của chúng ta đã có truyền thống bao nhiêu năm? Ai là
người dựng nước đầu tiên?
Hướng dẫn:
Ðiều kiện để hoà đồng
vào một xã hội khác không phải là yếu tố huyết thống (cùng dòng máu) quyết định
, mà là yếu tố văn hoá. Tức là: Nếu người ta thông hiểu được văn hoá, phong tục
tập quán, nếp nghĩ và cách làm việc của người sở tại, người ta sẽ hoà đồng vào xã hội mới dễ hơn nhiều.
Dù là người Ðức, nhưng họ đã mấy thế hệ không sống ở Ðức, nên sự hoà đồng sau
khi tái thống nhất vấp phải những vấn đề văn hoá.
Nếu người Việt sống ở nước ngoài không biết
tiếng Việt, không hiểu truyền thống Việt, không hiểu văn hoá Việt ... thì khi
trở về Việt nam, họ có khác gì những người Ðức trong câu chuyện kể trên?
Chính tả
Những từ (gạch dưới)
sau đây viết tr
Họ đã phạm một sai lầm
trầm trọng.
Kẻ gian thường trà
trộn vào đám đông để lợi dụng sơ hở của người mua hàng.
Vì lo bài thi ngày
mai, em trăn trở mãi không ngủ được.
Do cơn đau tim đột
ngột, cụ già ra đi không một lời trăng trối.
Vì lười học, trầy
trật mãi bạn Liêm mới đậu tốt nghiệp phổ thông.
Hai nước hội đàm để
giải quyết tranh chấp ở vùng biên giới.
Hãy đặt cho mỗi từ sau đây một câu
tương tự!
Trơ trọi, tròn trùng trục, truyền đạt, truyện ngắn, trình độ,
trĩu quả, triển vọng, trí tuệ, trình bày, trừng phạt, trơn tru, trò chơi, trợ
cấp, trung bình, trực thăng, trận đấu, trồng trọt, trốn tìm, trôi chảy, trụ sở