TVII-09

 

Bài 9

Thuyền và biển

 

Xuân Quỳnh

 

Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển

“Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biển khơi

Cánh hải âu , sóng biếc

Ðưa thuyền đi muôn nơi

 

Lòng thuyền nhiều khát vọng

Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa... còn xa

 

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thầm thì  gửi tâm tư

Quanh mạn thuyền sóng vỗ

 

Cũng có khi vô cớ

Biển ào ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên ?)

 

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mang nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu về đâu

 

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ

 

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió »

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố.

 

Câu hỏi:

  1. Em biết gì về nhà thơ Xuân Quỳnh?
  2. Tác giả dùng hình ảnh “Thuyền và biển” để nói điều gì?
  3. Em hãy cho biết ý bóng của 2 câu thơ:

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa ... còn xa.

  1. Thuyền và biển đã trở thành đôi bạn luôn luôn có nhau. Em hãy tìm

những câu thơ mô tả sự gắn bó này!

 

Câu hỏi về ngữ pháp:

  1. Một câu có chủ ngữ , vị ngữ, trạng ngữ. Nếu ta bỏ phần trạng ngữ đi thì câu còn đúng không? Tại sao?
  2. Người ta có thể để trạng ngữ ở vị trí nào trong câu?

 

Chính tả:

Âm  có chữ  r  ở đầu câu:

Mưa rả rích từ mấy hôm nay.

Sau vụ đình công của công nhân sở vệ sinh, thành phố tràn ngập rác rưởi.

Với khuôn mặt rạng rỡ của người chiến thắng, cổ động viên hát vang đường phố.

Rèn luyện là một bí quyết để thành công.

Sau nhiều năm gặp lại, ai cũng đều rơm rớm nước mắt.

 

Em hãy đặt  câu tương tự với  những từ sau đây!

Róc rách, ria mép, rùm beng, run sợ, rượu chè, rầy rà, rập khuôn, rừng rậm, rồ dại, rêu phong, réo rắt, rũ rượi, rơ moóc, rình mò, rà soát, ròng rã, rung rinh, man rợ, rón rén, rỗi rãi, may rủi ...